1. VIDEO GIỚI THIỆU SƠ BỘ MỘT DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIẤY.
Hoàn thành ngày 29/06/2015.
2. ĐÁNH GIÁ KHÓA HỌC “CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIẤY”
TẠI TỈNH GIA LAI.
1. GIỚI
THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NGÀNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIẤY TẠI TỈNH GIA LAI.
1.1 Đặc điểm chung của Ngành sản xuất giấy tại tỉnh Gia lai.
Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở Tây nguyên
Việt Nam. Tại đây có một nguồn tài nguyên rất lớn để sản xuất các mặt hàng phục
vụ cho ngành giấy mà ở các địa phương khác khó có thể có được, đó là giá cả của
nguyên liệu và nhân công tại chổ khá là thấp, đáp ứng rất phù hợp cho giá thành
kinh tế của các đơn vị sản xuất giấy tại Gia Lai. Tuy nhiên, điều kiện để
trang bị cho ngành công nghệ sản xuất Giấy như máy móc, thiết bị, công nghệ,
trình độ quản lý, công nhân sản xuất... còn gặp rất nhiều khó khăn. Mọi
thứ đều thiếu, không đồng bộ, lạc hậu, hạn chế... so với tất cả
các tỉnh khác ở trong nước. Đặc biệt là trình độ quản lý và trình độ
công nghệ của công nhân còn rất thấp, đại đa số là học nghề lại và thuê
mướn các chuyên viên và nhân công ở các địa phương có ngành giấy phát triển
hơn.
1.2. Chủ
trương yêu cầu cần phát triễn ngành Công nghệ Giấy của tỉnh Gia Lai.
Trong vài năm gần đây, Ủy ban Nhân tỉnh Gia
Lai thấy được nguồn lợi sẽ thu được và sự phát triển lâu dài có được từ ngành
Giấy, Họ đã mạnh dạn phát triển đầu tư ngành giấy bằng cách kêu gọi các từ các
doanh nhân trong và ngoài tỉnh, đồng thời trang bị thêm về kiến thức để quản lý
và công nghệ sản xuất Giấy cho các đơn vị đã và đang hoạt động trong tỉnh.
Thông qua chủ trương phát động mạnh mẽ của sở
Công nghiệp tỉnh. Các công ty có qui mô lớn như Đức Minh ở khu công nghiệp Trà
Đa, công ty sản xuất Bột giấy ở tận KBang cũng đã cử các cán bộ quản lý và công
nhân viên kể cả cũ và mới đến, để theo khóa học “Quản lý cơ bản và công nghệ sản
xuất Giấy tại khu Công nghiệp Trà Đa, trong thời gian 6 tháng, do Sở Công nghiệp
tỉnh Gia Lai quản lý và thực hiện. Các thành phần tham gia khóa học bao gồm các
cán bộ quản lý công nghiệp tại các sở Công nghiệp, Nông nghiệp, các ban ngành
có liên quan và các đơn vị sản xuất Giấy. Thành phần giảng dạy chính là đội ngũ
Giảng viên của trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ chí Minh, khoa Công nghệ sản xuất
Bột giấy và các Chuyên viên Công nghệ sản xuất Giấy của công ty Gia Vũ Tp Hồ
Chí Minh thực hiện.
1.3. Kết
quả của Khóa học Công nghệ sản xuất Bột giấy và Giấy tại tỉnh Gia Lai.
Sau 6 tháng, thông qua sự nhiệt tình của Ban
giảng dạy, hơn 60 Học viên đã có các thu thập tốt, rất khả quan về kiến thức
cũng như thực hành ở cấp độ Cơ bản về quản lý và công nghệ sản xuất Giấy. Có được
kết quả trên là nhờ ở sự cố gắng của các Học viên và sự tận tâm của Ban giảng
viên đã có giáo trình chuẩn và áp dụng các phương pháp dạy học thích hợp. Trong
đó, phải kể đến các phương cách kiểm tra, đánh giá nhanh và chính xác các nội
dung của Chương trình từ Lý thuyết đến Thực hành đã được thực hiện giảng dạy hiệu
quả qua Khóa học trên. Đây là một kết quả tích cực, cần nhân rộng và phát huy
hiệu quả tăng thêm lên cho các Khoá đào tạo tiếp về sau. Tuy nhiên, Chúng ta thử
ngắm lướt qua các phương cách đánh giá, kiểm tra hiệu quả về việc giảng dạy của
Khóa học “Công nghệ sản xuất Bột giấy và Giấy” trên tại tỉnh Gia Lai, để phân
tích xem các ưu thế cần phát triển thêm và hạn chế thấp nhất những khuyết điểm
hãy còn tồn tại. Đó cũng là lý do để tôi viết tập Tiểu luận mang tên “Trình
bày, phân tích các hình thức kiểm tra, đánh giá trong Khóa học Công nghệ sản xuất
Bột giấy và Giấy tại tỉnh Gia Lai” nhằm mục đích hoàn thiện hơn trong công việc
kiểm tra, đánh giá cho các Khóa học tiếp nối sau này.
2. TRÌNH BÀY, PHÂN TÍCH VỀ VIỆC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KHÓA HỌC “CÔNG NGHỆ SẢN
XUẤT GIẤY” TẠI TỈNH GIA LAI.
2.1. Trình bày.
2.1.1. Yêu cầu cần mở Khóa học “Công nghệ sản xuất
Giấy” tại tỉnh Gia Lai.
2.1.1.1. Mục tiêu
của Khóa học.
Với mục tiêu bắt buộc của chủ trương, do Ủy
ban tỉnh Gia Lai yêu cầu, cụ thể là các học viên sau Khóa học phải nắm bắt rõ về
Quản lý và Công nghệ sản xuất Bột giấy và Giấy ở cấp độ Cơ bản. Với thành phần
của các học viên, phần lớn có trình độ khá đồng đều, từ thấp nhất là đã tốt
nghiệp Phổ thông trung học, kể cả công nhân viên đang làm việc hay học viên mới
chuẩn bị học việc được tuyển chọn tham gia, cũng như các cán bộ của những Ban
Ngành, đội ngủ quản lý về ngành Giấy trực thuộc các đơn vị. Điều này tạo điều
kiện thuận lợi cho việc lên Giáo trình, áp dụng các phương pháp giảng dạy phối
hợp cũng như các phương cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của Học viên
cho toàn Khóa học.
2.1.1.2. Nội dung
chính của Khóa học.
Với nội dung chính của Khoá học là giảng dạy các
môn học Hóa Cenlluloza, Nguyên liệu sản xuất Bột giấy, Công nghệ sản xuất bột
giấy, Công nghệ sản xuất Giấy. Máy móc, Thiết bị ngành Giấy, An toàn sản xuất,
Kiểm tra chất lượng nguyên liệu, sản phẩm Giấy (KCS), Lý thuyết Vận hành máy, Thực hành Vận hành
máy,…được soạn, viết rất riêng và cô đọng cho chất nguyên liệu cụ thể hiện có ở
Gia Lai. Vì thế, yêu cầu của Giáo trình cũng rất chặt chẻ, các Học viên phải nắm
bắt được những kiến thức cơ bản của các môn học ngay tại lớp. Họ được cung cấp
các Giáo trình, Tài liệu, được phân nhóm để bàn bạc, thảo luận, đóng góp ý kiến,
được trả lời các câu hỏi cụ thể, được mô phỏng thực hành trực tiếp trên máy sản
xuất,…Tùy vào sự phối hợp chặt chẻ của các Phương pháp dạy học cụ thể theo yêu
cầu riêng ở các môn học như Thuyết giảng, Bàn bạc hội ý, Thảo luận nhóm, Động
não, Mô phỏng, Thực hiện kiểm tra bài tập giửa, cuối ngày học và về nhà chuẩn bị
cho buổi học kế tiếp,…Việc kiểm tra, đánh giá của các Giảng viên cũng được cập
nhật theo sát đúng tiến độ của chương trình.
2.1.2 Giới thiệu các Khái niệm về các Hình thức kiểm
tra, Đánh giá cho Khóa học.
2.1.2.1. Khái niệm
về “Kiểm tra”, “Đánh giá”.
·
Kiểm tra,
được chúng ta hiểu là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học
nhằm thu những “thông tin cần thiết” để đánh giá.
·
Đánh giá,
có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một
tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định
theo một mục đích nào đó”, theo J.M.De Ketele.
2.1.2.2. Khái niệm
về “Đo”, “Lượng giá”.
·
Đo, theo
định nghĩa của J.P.Guilford, là gắn một đối tượng hoặc một biến cố theo một qui
tắc được chấp nhận một cách logíc. Sự đo liên quan đến dụng cụ đo, một dụng cụ
đo có 3 tính chất cơ bản.
o Độ giá trị, đó là khả năng của dụng cụ đo cho
giá trị thực của đại lượng được đo.
o Độ trung thực, đó là khả năng luôn luôn cung
cấp cùng một giá trị của cùng một đại lượng đo với cùng dụng cụ đó.
o Độ nhậy, đó là khả năng của dụng cụ đo có thể
phân biệt hai đại lượng chỉ khác nhau rất
ít.
·
Lượng giá
theo tiêu chí là sự đối chiếu với những tiêu chí đã đề ra.
Đánh giá là khâu tiếp theo khâu Lượng giá, là
việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ của Học viên, xét
trong mối quan hệ với quyết định cần đưa ra (theo mục đích đã định kiểm tra,
đánh giá).
Các bài kiểm tra của Khóa học được xem như
phương tiện kiểm tra kiến thức, kỹ năng trong việc dạy và học. Vì vậy việc soạn
thảo nội dung cụ thể của các hình thức kiểm tra rất quan trọng, đặc biệt trong đánh giá Kiến thức kỹ
năng.
2.1.3. Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá trong
Khóa học.
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của Học viên trong Khóa học là một khâu quan trọng nhằm xác định
thành tích học tập và mức độ thu thập kiến thức, kỹ năng, vận dụng về quản lý
và công nghệ sản xuất Giấy ở mức Cơ bản của Người học. Việc Kiểm tra, Đánh giá
là hai công việc được Ban giảng viên tiến hành theo trình tự nhất định hoặc đan
xen lẫn nhau nhằm khảo sát, xem xét về cả định lượng và định tính kết quả học tập,
đánh giá mức độ chiếm lĩnh nội dung học vấn của Học viên. Bởi vậy, cần phải xác
định “thước đo” và chuẩn đánh giá một cách khoa học, khách quan. Có 3 mục đích
chính của việc Kiểm tra, Đánh giá trong Khóa học trên.
·
Đối với Học
viên, nhân vật trung tâm của Khóa học, việc được kiểm tra, đánh giá có tác dụng
thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua kết quả kiểm tra, các Học
viên tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, để có phương pháp tự mình ôn tập,
củng cố bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn bằng phương pháp tự học với hệ thống
thao tác tư duy của chính mình.
·
Đối với Giảng
viên, kết quả kiểm tra, đánh giá mỗi người tự đánh giá quá trình giảng dạy của
mình. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình về Trình độ học vấn,
về Phương pháp giảng dạy.
·
Việc Kiểm
tra, Đánh giá các Học viên còn cung cấp cho Cán bộ quản lý tại Sở Công nghiệp,
Trường Đại học Nông Lâm , Công ty Gia Vũ những thông tin cơ bản về thực trạng dạy
và học của đơn vị, để có những chỉ đạo kịp thời nhằm thực hiện tốt các mục tiêu
đào tạo đã đề ra. Kết quả đánh giá sẽ tạo cơ sở cho Ban giảng viện kịp thời điều
chỉnh, cải tiến mục tiêu nội dung chương trình, phương pháp, kế hoạch đào tạo
nhằm nâng cao hơn chất lượng và hiệu quả của Khóa học.
2.2. Phân tích các Hình thức Kiểm tra, Đánh giá và ưu khuyết điểm của nó
trong toàn Khóa học.
2.2.1. Hình thức Kiểm tra quá trình.
Giảng viên phối hợp các hình thức kiểm tra bằng
cách cho các Học viên đặt và trả lời các câu hỏi ngay trong giờ học, làm các
bài tập nhanh qua hội ý, bàn bạc nhóm,… và kết quả thu hoạch sẽ được Giảng viên
đánh giá cụ thể, tích lủy điểm cho quá trình kiểm tra hết môn học.
Ưu điểm:
Hình thức này tạo cho các Học viên luôn chú ý
đến bài giảng, họ động não liên tục, và đoàn kết trong học tập, tạo điều kiện
cho việc kết hợp thực hành trên máy và làm việc thực sự sau này.
Khuyết điểm:
Các Giảng viên phải quan sát nhiều hơn trong
việc kiểm tra các Học viên khi bàn bạc nhóm, dẩn hướng và giải thích các vấn đề
được đặt ra một cách cụ thể, chính xác.
Một số Học viên có thể mang tính ỷ lại vào
các bạn của nhóm mình mà hưởng thành tích.
2.2.2. Hình thức Kiểm tra bài viết theo yêu cầu của
Đề bài.
Đây là hình thức được sử dụng để kiểm tra cuối
môn của một số môn quan trọng trong Khóa học mà các Học viên cần phải nắm rõ kiến
thức Cơ bản về Ngành như môn học Hóa Celluloza, Công nghệ sản xuất Bột giấy, Công
nghệ sản xuất Giấy, Lý thuyết Vận hành máy. Các môn học này có ảnh hưởng quyết
định đến tư duy cá nhân trong quá trình tiếp thu thêm kiến thức để đi sâu vào Ngành
hơn về sau này.
Ưu điểm:
Hình thức này dễ sử dụng, thuận tiện cho Giảng
viên trong việc ra đề, coi thi và chấm bài.
Khuyết điểm:
Hạn chế của Hình thức này được nhiều người
nói đến là nếu đề thi và đáp án không tốt thì rất khó có thể đánh giá được khả
năng giải quyết vấn đề của Học viên.
Hình thức Kiểm tra trên cũng rất dễ làm cho Học
viên học tủ, học lệch.
2.2.3. Hình thức Kiểm tra trắc nghiệm khách quan:
Đây là hình thức cho phép các Giảng viên khảo
sát một cách toàn diện kiến thức của Người học. Ban giảng viên áp dụng cho các
môn phụ trợ như Kiểm tra chất lượng Nguyên liệu, Sản phẩm Giấy (KCS), An toàn sản
xuất,…
Ưu điểm:
Làm cho Học viên phải tiếp thu được kiến thức
hoàn thiện hơn, tránh được việc học tủ, học lệch.
Khuyết điểm:
Các Giảng viên phải soạn thật kỹ bộ đề kiểm
tra, vì nếu bộ câu hỏi của Giảng viên ra đề để kiểm tra không đúng chất lượng,
không có độ phân hóa thì cũng chỉ đơn thuần là kiểm tra trí nhớ, bắt Học viên học
để mang tính đối phó nhiều hơn.
2.2.4. Hình thức Kiểm tra bóc đề thi, vấn đáp:
Ban giảng viên dùng hình thức này để kiểm tra
bài thi cuối Khóa cho các môn phối hợp bao gồm những môn học quan trọng như Công
nghệ sản xuất Bột giấy, Công nghệ sản xuất Giấy, Lý thuyết Vận hành máy, Kiểm
tra chất lượng Nguyên liệu, Sản phẫm Giấy.
Ưu điểm:
Các Giảng viên sẽ lượng giá và đánh giá chính
xác nhiều hơn mức độ tiếp thu của Học viên thông qua việc vấn đáp trực tiếp.
Các Học viên phải được chuẩn bị kiến thức thật
kỹ lưởng trước khi được kiểm tra, họ sẽ được giải thích, học hỏi cụ thể các vấn
đề từ các Giảng viên kiểm tra.
2.2.5. Hình thức Kiểm tra thực hành trực tiếp trên
máy sản xuất.
Các Học viên phải bị kiểm tra thực hành trên
máy trực tiếp sau khi đã được huấn luyện kỹ lưởng môn học Vận hành máy. Các Giảng
viên đã mô phỏng, luyện rèn cho các Học viên thành thạo cơ chế Vận hành máy
theo các Qui trình công nghệ cho phép.
Ưu điểm:
Các Học viên phải thực sự là những Cán bộ, Công
nhân kỹ thuật lành nghề sau khi qua Khóa học.
Ban quản lý Khóa học sẽ được các thông tin
chính xác về kết quả của các Học viên để bố trí thích hợp vị trí công tác cho họ
sau này.
Khuyết điểm:
Các Giảng viên và Huấn luyện viên phải rất vất
vả để theo dỏi việc kiểm tra thực hành trên máy sản xuất để tránh các trường hợp
về vi phạm an toàn lao động, tránh các tai nạn có thể xảy ra. Họ phải đánh giá
chính xác thao tác của Học viên theo những tiêu chí khi kiểm tra thực hành.
2.3. Nhận xét chung về phần Phân tích trên.
Ta có bảng kết quả gọn, được báo cáo sau khi
kết thúc chương trình học như sau.
Bảng 1: Bảng Phân loại kết quả học tập
cuối khóa của Học viên.
Số TT
|
Phân loại
|
Mức điểm
|
Số lượng
|
Ghí chú
|
1
|
Hạng giỏi
|
≥
8,0
|
08
|
Có 3 Học
viên có điểm lớn hơn 9,00đ.
|
2
|
Hạng
khá
|
8,0
> X ≥ 6,5
|
36
|
|
3
|
Hạng
Trung bình
|
6,5
> X ≥ 5,0
|
19
|
Có 3 Học
viên có điểm vừa 5,0đ.
|
4
|
Hạng
Thường.
|
5,0
<
|
0
|
Nguồn: Kết quả báo cáo Tổng kết cuối Khóa học.
Kết quả của Khóa học có 8/63 Học viên đạt loại
giỏi với điểm trung bình toàn khóa trên 8,0 điểm. Loại khá có 36 Học viên với
điểm trung bình từ trên 6,5 điểm đến dưới 8,0. Phần còn lại là hạng trung bình
khá với số điểm trung bình trên 6,0 điểm, tuy nhiên có 3 Học viên chỉ đạt điểm
vừa 5,0 điểm. Đó là các Học viên ở miền núi, chưa tốt nghiệp xong Chương trình
học Phổ thông Trung học. Khoảng cách về điểm của các Học viên qua quá trình kiểm
tra, đánh giá khá chặt chẻ và công bằng của Ban giảng viên với tất cả các đối
tượng, cũng cho chúng ta thấy được việc phân loại các nhóm Học viên cần cho các
vị trí công tác, theo đẳng cấp kỹ năng làm việc của từng Học viên.
Với thời gian khá hạn chế, trong vòng có 06
tháng đào tạo, các Học viên phải tiếp thu toàn bộ Giáo trình khá khó. Họ học cả
2 buổi, mỗi ngày. Trong đó có 3 buổi chiều, mỗi tuần phải tham gia thực tập
trên máy khi xưởng của công ty vẫn hoạt động sản xuất. Đây là sự nổ lực rất lớn
của các Học viên quyết tâm học cho được nghề, sự tận tâm của Ban giảng viên quyết
lòng đào tạo cùng với sự ủng hộ hết mình của nhà máy sản xuất cùng với việc tạo
điều kiện học tập thật tốt của ban quản lý trực thuộc Sở Công nghiệp tỉnh Gia
lai.
Tuy nhiên, với kết quả đào tạo khá khả quan
trên, Ban giảng viên vẫn còn một số trăn trỏ về sự phối hợp giửa các Phương
pháp dạy học và việc kiểm tra, đánh giá chưa thật sự hoàn hảo. Vì Thời tiết 06
tháng cuối năm ở Gia Lai thường mưa nhiều nên ảnh hưởng đến việc thực hành và
kiểm tra, đánh giá các môn học làm việc ngoài trời như Kiểm tra chất lượng Nguyên
liệu, Sản phẫm Giấy (KCS), thực tập môn học Vận hành máy tại Khu nguyên liệu,…
Mặc dù Ban giảng viên đã cố gắng phối hợp giữa
các Phương pháp dạy học và việc Kiểm tra, Đánh giá phối hợp khá chặt chẻ trong
toàn Khóa học, nhưng vẫn còn một số khiếm khuyết như chưa cho hệ số độ khó của
từng công đoạn, từng phần của giáo án của mỗi môn học, giửa các môn học với
nhau để tăng thêm mức độ chính xác của việc Kiểm tra, Đánh giá riêng từng Học
viên. Các hình thức như làm Tiểu luận,
Bài tập lớn,... còn chưa được áp dụng.
Tóm lại.
Tuy có kết quả khá khả quan sau Khóa đào tạo
về Công nghệ sản xuất Bột giấy và Giấy ở Gia Lai, Ban giảng viên đã thấy được một
số vấn đề còn bị hạn chế trong các hình thức Kiểm tra, Đánh giá như chưa áp dụng
thêm các hình thức làm Tiểu luận, Bài tập lớn,…vào Chương trình. Chưa phân bổ được
các hệ số hợp lý cho việc Kiểm tra,
Đánh giá của từng phần của các môn, giửa các
môn học với nhau để làm tăng thêm độ chính xác của kết quả kiểm tra, đánh giá
cho từng kỹ năng của mỗi Học viên. Ban giảng viên chưa tham khảo được thời tiết,
khí hậu ở Gia lai trước khi xây dựng chương trình thực tập giảng dạy ngoài trời.
Chúng ta đã và đang đổi mới về Mục đích, Nội
dung và Phương pháp dạy học, tuy nhiên các hình thức Kiểm tra, Đánh giá hiện
nay mới chỉ biết và tạm thời Lượng giá được sự hiểu biết và vận dụng kiến thức
của các Học viên, còn việc phân tích, tổng hợp, đánh giá, giải quyết một vấn đề
thì vẫn còn khá hạn chế.
2.4. Một số đề xuất về các hình thức kiểm tra, đánh giá để áp dụng vào
các Khóa giảng dạy sau này nhằm tăng thêm hiệu quả của công tác đào tạo..
Đề nghi các đơn vị cần đào tạo chọn lựa các Học
viên tham gia có trình độ đạt chuẩn, đồng đều, không quá chênh lệch nhau về mặt
kiến thức.
Điều nghiên kỹ các yếu tố ảnh hưởng đến môi
trường dạy học như Không gian, Nơi chốn, Thời tiết, Khí hậu,…
Áp dụng, phối hợp triệt để các Hình thức Kiểm
tra, Đánh giá trong các Phương pháp dạy học để có hiệu quả dạy học tối ưu nhất
tùy trường hợp cụ thể.
Phân bổ hợp lý các hệ số cho từng phần của những
môn học cũng như giửa các môn học với nhau nhằm tăng hiệu quả về việc kiểm tra,
đánh giá chính xác khả năng thu thập kiến thức và kỹ năng thao tác vận hành máy
của từng Học viên.
Mỗi đánh giá chính xác của Ban giảng viên
giúp các Đơn vị cần đào tạo, các Nhà đầu tư cho chương trình có cơ hội bố trí
chính xác các vị trí công tác tại đơn vị, nhằm tăng hiệu quả sản xuất, kinh
doanh của họ cũng như làm tăng thêm uy tín của Ban giảng viên.
3. LỜI KẾT.
Sau khi kết thúc Khóa học trên về “Công nghệ
sản xuất Bột giấy và Giấy” tại tỉnh Gia Lai, tất cả các Học viên đều được các
Ban Lãnh đạo của những đơn vị sản xuất về Giấy cũng như có liên quan đến Ngành
Giấy bố trí các vị trí công tác xứng đáng, có thu nhập cá nhân khả quan. Một
vài người trong số họ sau này được chuyển sang công tác về Quản lý cấp cao hơn
và hổ trợ tiếp tục cho các đơn vị sản xuất Giấy mới thuộc tỉnh Gia Lai hoặc
ngoài tỉnh có qui mô lớn hơn về vốn, về năng suất như Công ty Cổ phần sản xuất
Giấy Hoàng Anh Gia Lai, Công ty Cổ phần In và Bao bì Giấy Bình Định thuộc Tổng
công ty Bidiphar,…
Ban giảng viên vẫn tiếp tục hành trình đào tạo
nghề của mình, họ có nhiều thay đổi về sự áp dụng các đổi mới về Phương pháp dạy
học trong đó có nhiều sự phối trộn hợp lý giửa các Hình thức Kiểm tra, Đánh
giá,…Họ đã điều nghiên kỹ lưởng hơn trước khi soạn Giáo trình, lên Chương trình
cụ thể để đào tạo Học viên cho một đơn vị nào đó. Sau đó, Ban giảng viên đã gặt
hái thêm những sự thành công về việc Giảng dạy, chuyển giao “Công nghệ sản xuất
Bột giấy và Giấy” cho các đơn vị có qui mô đầu tư khá lớn như Công ty cổ phần
In và Bao bì Bình Định, trực thuộc Tổng công ty dược Bidiphar, Công ty Cổ phần
công nghiệp M&N ở Khu công nghiệp Đông bắc Sông Cầu thuộc tỉnh Phú Yên, các
Công ty Giấy tại Tp Hồ chí Minh, Đà Nẳng, Cần Thơ, Cà Mau và các tỉnh phía Bắc,…Cuộc
hành trình của họ vẫn còn tiếp tục với quan điểm luôn luôn đổi mới về Phương
pháp dạy học, luôn luôn đổi mới các Hình thức Kiểm tra, Đánh giá nhằm làm tăng
chất lượng đào tạo cho các Học viên.
Rất chân thành cám ơn Cô giáo Tiến sĩ Trần Thị
Thu Mai đã hướng dẫn cho tôi thực hiện hoàn thành tập Tiểu luận mang tên “TRÌNH BÀY, PHÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC KIỂM
TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG KHÓA HỌC CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BỘT GIẤY VÀ GIẤY TẠI SỞ CÔNG
NGHIỆP TỈNH GIA LAI.”.
Trong khi tôi chấp bút để viết tập Tiểu luận
trên, mặc dù đã có nhiều sự chăm chút mang tính hết sức cố gắng, nhưng chắc hẳn
thế nào cũng còn có các sai sót ngoài ý muốn. Rất mong được sự đóng góp ý kiến
của các vị Độc giả để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn. Rất chân thành cảm
ơn quí vị!
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Số TT
|
Nội dung.
|
1
|
Huỳnh Văn Sơn (chủ
biên), Trần Thị Thu Mai, Trần Thị Tứ
(2012); Giáo trình Tâm lý học Giáo dục
Đại học; NXB Đại học Sư Phạm, Tp Hồ
Chí Minh.
|
2
|
Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Hương (2004), Lý luận dạy
học (Tài liệu lưu hành nội bộ), Trường
Đại học Sư phạm, Tp Hồ Chí Minh.
|
3
|
Trần Bá Hoành
(2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
|
4
|
Nguyễn Công Khanh (Chủ
biên)(2014), Kiểm tra đánh giá trong giáo dục, http://nxbdhsp.edu.vn/Detailpro/47/1078/kiem-tra-danh-gia-trong-giao-duc.aspx
|
5
|
Cấn Thị Thanh Hương, (2011), Nghiên cứu quản lý Kiểm tra, Đánh giá kết quả Học tập trong Giáo dục
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Ngành Quản
lý Giáo dục, mã số 62 14 05 01, http://nxbdhsp.edu.vn/Detailpro/47/1078/kiem-tra-danh-gia-trong-giao-duc.aspx
|
--------
Hết --------
Viết xong ngày 19/06/2015.
Tôi rất yêu ngành Giấy!
Trả lờiXóacon cảm ơn chú vì bài viết bổ ích ạ
Trả lờiXóa